Huyết áp cao có thể góp phần vào hành vi thần kinh ở một số người

Một chuyên gia y tế kiểm tra một bệnh nhân. Chia sẻ trên Pinterest
Một nghiên cứu mới cho thấy huyết áp cao có thể góp phần gây ra các đặc điểm tính cách lo lắng và rối loạn thần kinh. Hình ảnh mặt nạ / Getty
  • Nghiên cứu gần đây cho thấy rằng huyết áp cao có thể dẫn đến sự gia tăng các hành vi thần kinh.
  • Huyết áp cao (tăng huyết áp) là một yếu tố nguy cơ dẫn đến đau tim, đột quỵ và các vấn đề sức khỏe khác.
  • Tăng huyết áp chịu trách nhiệm cho hơn 670.000 người chết tại Hoa Kỳ vào năm 2020.

Thần kinh là một đặc điểm tính cách được đặc trưng bởi xu hướng trải nghiệm những cảm xúc tiêu cực như lo lắng, sợ hãi, căng thẳng tinh thần, tức giận, tội lỗi và trầm cảm. Nghiên cứu cho thấy rằng nó có liên quan đến kết quả sức khỏe tồi tệ hơn.

“Những cá nhân đạt điểm cao hơn trong chứng loạn thần kinh có xu hướng có nguy cơ mắc bệnh mãn tính cao hơn — bao gồm bệnh tim mạch và các bệnh khác như bệnh Alzheimer — và [they] có nguy cơ tử vong sớm cao hơn”, ông nói. Angelina SutinTiến sĩ, giáo sư tại Khoa Khoa học Hành vi và Y học Xã hội tại Đại học Bang Florida ở Tallahassee.

Ngoài ra, “chứng loạn thần kinh là yếu tố dự đoán tính cách mạnh nhất của các rối loạn sức khỏe tâm thần,” cô ấy nói, “điều này có thể góp phần dẫn đến kết quả sức khỏe thể chất kém.”

Mức độ của đặc điểm tính cách này trong dân số cũng có thể thay đổi theo thời gian.

Ví dụ, một gần đây nghiên cứu phát hiện ra rằng chứng loạn thần kinh gia tăng ở những người trẻ tuổi ở Hoa Kỳ trong đại dịch COVID-19.

Mặc dù người ta biết rằng chứng loạn thần kinh có thể làm tăng nguy cơ dẫn đến kết quả sức khỏe kém, một nghiên cứu mới nghiên cứu gợi ý rằng, trong một số trường hợp nhất định, hiệp hội có thể đi theo hướng khác.

Cụ thể, huyết áp tâm trương cao có khả năng gây ra chứng loạn thần kinh, cho thấy kết quả của một nghiên cứu di truyền quy mô lớn được công bố gần đây trên tạp chí Tâm thần học đại cương.

Huyết áp được biểu thị bằng phép đo có hai số, một số ở trên (tâm thu) và một ở dưới (tâm trương). Ví dụ, 120/80 mm Hg.

Huyết áp tâm thu thể hiện áp suất trong mạch máu khi tim co bóp.

Ngược lại, tâm trương là áp suất của mạch máu giữa các lần co bóp của tim, khi các mạch được thư giãn.

Huyết áp cao, còn được gọi là tăng huyết áp, là một yếu tố rủi ro cho cơn đau tim, đột quỵ và các vấn đề sức khỏe khác.

Tình trạng này chịu trách nhiệm cho hơn 670.000 người chết tại Hoa Kỳ vào năm 2020, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh.

Mặc dù chế độ ăn uống nghèo nàn, thiếu hoạt động thể chất và mức độ căng thẳng cao có thể ảnh hưởng đến việc bạn có bị huyết áp cao hay không, gen cũng đóng một vai trò.

Các tác giả của nghiên cứu mới đã sử dụng thực tế này để kiểm tra mối liên hệ giữa huyết áp và một số đặc điểm tính cách bằng cách sử dụng một kỹ thuật gọi là ngẫu nhiên Mendel.

Họ đã dựa trên một số bộ dữ liệu quy mô lớn chứa dữ liệu di truyền được trích xuất từ ​​​​các mẫu máu được cung cấp bởi những người có nguồn gốc chủ yếu là người châu Âu.

Các nhà nghiên cứu đã xem xét bốn đặc điểm của huyết áp – huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương, huyết áp và huyết áp cao. Họ cũng kiểm tra bốn trạng thái tâm lý – lo lắng, triệu chứng trầm cảm, loạn thần kinh và hạnh phúc chủ quan.

Phân tích của họ cho thấy rằng huyết áp tâm trương có “tác động nhân quả đáng kể” đối với chứng loạn thần kinh nhưng không ảnh hưởng đến sự lo lắng, các triệu chứng trầm cảm hoặc sức khỏe chủ quan.

Các đặc điểm huyết áp khác không liên quan đến bốn trạng thái tâm lý.

Các nhà nghiên cứu thừa nhận những hạn chế nhất định của những phát hiện của họ. Ví dụ: vì dữ liệu di truyền chủ yếu đến từ những người có nguồn gốc châu Âu nên kết quả có thể không áp dụng cho các quần thể khác.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu không thể loại trừ chứng đa năng – trong đó một gen có thể ảnh hưởng đến cả huyết áp tâm trương và chứng loạn thần kinh. Điều này có thể làm cho liên kết giữa hai người có vẻ mạnh mẽ hơn.

Cần nhiều nghiên cứu hơn để hiểu đầy đủ về cơ chế liên kết giữa huyết áp và trạng thái tâm lý, nhưng nghiên cứu này đã bổ sung thêm một bước ngoặt mới cho mối liên hệ đó.

“Thật thú vị khi thấy rằng các nhà nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng ủng hộ hướng nhân quả từ huyết áp đến chứng loạn thần kinh, nhưng không phải ngược lại,” cho biết Lewina Lee, Tiến sĩ, trợ lý giáo sư tâm thần học tại Trường Y Đại học Boston. “Tôi tò mò muốn nghe suy nghĩ của họ về các cơ chế tiềm năng và lời giải thích cho những phát hiện này.”

Tuy nhiên, nghiên cứu trước đó đã chỉ ra rằng chứng loạn thần kinh – và các trạng thái tâm lý liên quan – có thể có tác động tiêu cực đến sức khỏe tổng thể.

Ví dụ, hai nghiên cứu — trong 20072013 – liên kết mức độ loạn thần kinh cao hơn với nguy cơ tử vong vì bệnh tim mạch cao hơn.

Tuy nhiên, Lee cho biết do cách thức nghiên cứu được thiết kế, những người tham gia có thể đã mắc bệnh tim mạch ngay từ đầu. “Vì vậy, không có đủ thông tin để nói liệu chứng loạn thần kinh có gây ra sự phát triển của bệnh tim mạch hay không,” cô nói.

Một nghiên cứu khác đã xem xét ảnh hưởng sức khỏe của các yếu tố tâm lý liên quan chặt chẽ đến chứng loạn thần kinh.

Một phân tích tổng hợp phát hiện nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao gấp 1,5 lần ở những người lo lắng so với những người không lo lắng.

Lee cho biết: “Những kết quả này được duy trì ngay cả khi các phân tích chỉ giới hạn ở những người không mắc bệnh tim mạch lúc ban đầu.

Thêm vao Đoa, nghiên cứu cho thấy trầm cảm là một yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch vành và làm tăng nguy cơ tử vong ở những người mắc bệnh tim mạch vành hiện tại.

Nếu chứng loạn thần kinh có liên quan đến tình trạng sức khỏe kém, liệu điều trị chứng loạn thần kinh có giúp cải thiện sức khỏe thể chất không?

Sutin nói chúng ta chưa có câu trả lời cho câu hỏi đó.

Cô ấy nói: “Mới đây, các nhà nghiên cứu đã kiểm tra nghiêm ngặt xem liệu chứng loạn thần kinh có thể được thay đổi thông qua can thiệp hay không,” cô ấy nói và nói thêm, “nó có thể.”

Nghiên cứu bổ sung là cần thiết để chỉ ra liệu điều trị – bao gồm thuốc và liệu pháp hành vi nhận thức (CBT) – có thể dẫn đến kết quả sức khỏe tốt hơn.

Lee chỉ ra nghiên cứu cho thấy rằng điều trị các tình trạng liên quan đến chứng loạn thần kinh – chẳng hạn như lo lắng, trầm cảm và rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD) – có thể ngăn ngừa bệnh tim tái phát.

Ví dụ, các nghiên cứu cho thấy rằng giảm căng thẳng – chẳng hạn như trị liệu hành vi nhận thứcThiền siêu việt — có thể làm giảm nguy cơ đau tim, đột quỵ và các biến cố liên quan đến tim khác ở những người mắc bệnh tim mạch hiện có.

Nhưng cô ấy cho biết nghiên cứu về việc liệu điều trị PTSD có thể làm giảm nguy cơ phát triển bệnh tim mạch hay không.

Tuy nhiên, “còn rất nhiều cơ hội để nghiên cứu thêm trong lĩnh vực này,” cô nói.

Sutin hy vọng mối liên hệ giữa chứng loạn thần kinh và sức khỏe sẽ đi theo cả hai chiều, “chẳng hạn chứng loạn thần kinh có liên quan đến kết quả sức khỏe kém, nhưng sức khỏe kém cũng có thể làm tăng chứng loạn thần kinh”.

Bà nói: “Việc phá vỡ chu kỳ này sẽ rất quan trọng để cải thiện sức khỏe và hạnh phúc lâu dài.

🌐 Nguồn

Bài viết liên quan

Đánh giá

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *